Thứ Sáu , Tháng Một 19 2018
NaturalTHAM DỰ ĐÊM HOA ĐĂNG NGÀY VÍA ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ VÀO CHỦ NHẬT NGÀY 31/12/2017( hồi 18h tối ngày 14/11 năm Đinh Dậu)Natural
Home / Pháp Môn Niệm Phật / Các Bài Viết Khác / Kinh Khu Rừng – Vanapatthasutta

Kinh Khu Rừng – Vanapatthasutta

  1. GIỚI THIỆU

Phương tiện và cứu cánh giải thoát là hai mối liên hệ mật thiết với nhau. Cứu cánh chỉ có một nhưng phương tiện thì vô số. Chúng ta phải lựa chọn thế nào, áp dụng ra sao trên con đường đi tìm cứu cánh cho chính mình.

  1. TOÁT YẾU

Một bài giảng về những điều kiện nào một tỳ-kheo nên tiếp tục sống tại một khu rừng, trú xứ, quốc độ hay gần gũi một người nào đó, và điều kiện nào nên bỏ đi chỗ khác nơi khác để tu tập.

  1. GIẢI THÍCH TỪ NGỮ

3.1. Lậu hoặc (āsava).

Chữ āsava theo nghĩa ban sơ là một loại nước say do ủ lâu ngày mà thành.

  • Nước say lấy từ bông như bông thốt nốt, gọi là pupphāsava.
  • Nước say lấy từ quả trái cây như nho… gọi là phalāsava.
  • Chất say lấy từ mật ong, gọi là madhuvāsava.\
  • Chất say lấy từ mía, gọi là guḷāsava.

Lậu hoặc (āsava). Chữ āsava ở đây có hai nghĩa là cặn bã hay sự rò rỉ. Đức Phật dùng từ này để gọi tên những thứ phiền não căn bản tạo nên cuộc luân hồi.Ví như nước từ trong lòng núi “thấm rịn” qua kẻ nứt của đá, hay “chảy rịn ra”  từ kẻ nứt. Cũng vậy, những chất độc của tâm linh sẽ “thấm rịn” hoặc “chảy ra” từ “kẻ nứt” của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý khi tiếp xúc với các cảnh trần.

Chữ āsava còn được dịch là “trầm luân”, hay “ngâm tẩm”.

Tức là pháp này làm chúng sinh “chìm đắm trong luân hồi” (trầm luân), hay chúng sinh phải chịu “ngâm mình trong giòng nước luân hồi” (ngâm tẩm).

3.2. Ách phược (yogakkhema).

Yoga ở đây có nghĩa là sự ràng buộc hay trói cột.

Vaṭṭasmiṃ satte yojentīti = yoga.

Pháp nào sẽ đem chúng sanh ràng buộc trong luân hồi, gọi là ách phược.

Ví như con bò phải mang cái ách vào cổ, nó không được tự do đi đâu cũng được, nó phải đi theo sự dẫn dắt của người chủ. Cũng vậy, chúng sanh cứ mãi chịu luân hồi, không thể giải thoát được cũng vì sự ràng buộc này.

  1. TÓM TẮT NỘI DUNG

Để có ngoại duyên hỗ trợ thuận duyên cho công phu giải thoát, hành giả cần có quyết định đúng đắn về trú xứ và người thân cận, đồng hành.

Và đức Phật đưa ra bốn trường hợp để các vị đệ tử quyết định cho mình nên ở nơi như thế nào và thân cận người ra sao.

4.1. Tu không tiến + tứ sự hiếm > bỏ đi

Ở bất cứ trú xứ nào kể cả một khu rừng hoang vắng yên tĩnh nhưng nếu xét thấy nơi đó tam học không được phát triển và đời sống vật chất khó khăn thì vị ấy nên lập tức bỏ đi nơi khác.

4.2. Tu tiến + tứ sự hiếm > ở lại

Tuy nhiên, ở những trú xứ nào, chẳng hạn như một khu rừng mà sự tu tập tam học được thành tựu dễ dàng, dù cho ở đó vật dụng có khó khăn đến mấy đi nữa, vị Tỳ-khưu phải tự quán xét như sau để có thể tiếp tục ở lại: “Ta sống đời sống phạm hạnh chỉ vì cứu cánh giải thoát vô thượng chứ không phải vì tài vật”.

4.3. Tu không tiến + tứ dễ dàng > bỏ đi

Đối với các vị đồng trú, dầu là bạn bè hay thầy tổ, cho dù sự chung sống với họ có đem lại cho vị Tỳ-khưu một niềm vui nào đó về tinh thần hay sự giải thoát về vật chất nhưng không thể giúp nhau phát triển về tam học thì sự cộng trú này xem ra vẫn là một lỗi lầm, vị Tỳ-khưu cần phải ra đi nơi khác.

4.4. Tu tiến + tứ sự dễ dàng > ở lại

Ngược lại, khi sống với vị đồng trú nào đó mà tam học bản thân được phát triển thì dù sự chung sống này có gặp phải bao nhiêu thử thách đi nữa, kể như một sự xua đuổi, vị Tỳ-khưu cũng phải tìm cách ở lại.

  1. PHÂN TÍCH CHI PHÁP

5.1. Ba pháp cần tăng trưởng

1. Tăng thượng giới (Adhisīlasikkhā), sự học tập trau giồi giới hạnh chân chánh, làm nền tảng tăng tiến tâm định.

IMG_6623

2. Tăng thượng tâm (Adhicittasikkhā), sự tu tập về tâm thiền kiên cố, làm nền tảng tăng tiến tuệ minh sát.

IMG_6624

3. Tăng thượng tuệ (Adhipaññāsikkhā), sự tu tập phát triển trí tuệ thẩm sát thực tướng danh sắc để đạt đến tri kiến thanh tịnh, giác ngộ giải thoát.

IMG_6625

Ba học pháp này gọi tóm tắt là Giới, Định, Tuệ, tức là Tam học.

5.2. Bốn món vật dụng

  1. Y phục (Cīvara), gồm y ca-sa (Kāsāva), vải mặc che thân.
  2. Vật thực (Piṇḍapāta),gồm thức ăn và thức uống nuôi sống thân mạng.
  3. Sàng tọa (Senāsana),gồm chỗ nằm, chỗ ngồi, luôn cả trú xứ, chỗ ngụ tránh mưa nắng.
  4. Thuốc trị bệnh (Gilānapaccayabhesajja), gồm các thứ thuốc uống, thuốc thoa.

5.2.1. Y phục

IMG_6626

Cīvara:Từ gọi chung chín loại y trang của tăng ni Phật giáo theo Luật Tạng.

Chín loại y đó là: Tăng-già-lê (saṅghāṭi), thượng y hay y vai trái (uttarasanga), hạ y hay y nội (antaravāsaka), y tắm mưa (vassikasāṭika), y rịt ghẻ (kaṇḍupaticchādi), tọa cụ (nisīdana), khăn trải giường hay bọc ghế (paccattharana), khăn lau gồm khăn tay và khăn tắm nói chung (mukhapuñchana), khăn lọc nước (parikkhāracoḷaka).

5.2.2. Vật thực

IMG_6627

Vật dùng đến hết ngọ: Yāvakālika, cơm, vật thực, bánh trái…

Vật dùng đến hết đêm: Yāmakālika, tám thứ nước dùng để giải khát trong buổi chiều tối như là: nước trái trâm, trái xoài, trái chuối, thanh trà…

Vật dùng trong bảy ngày: Sattāhakālika, năm thứ như bơ đặt, bơ tươi, đường, mật ong…

Vật dùng suốt đời: Yāvajīvika, rễ cây, củ, lá, bông, trái, vỏ thuộc loại dùng làm thuốc hoặc muối hay là một thứ thuốc nào theo cách cần dùng.

5.2.3. Sàng tọa

IMG_6628

Senāsana: Hán dịch là sàng tọa, nghĩa đen là chỗ nằm ngồi nói chung. Nhưng thuật ngữ này phải được hiểu là gồm luôn cả nơi cư ngụ. Bởi tỳ-khưu xưa phần lớn đều thường xuyên sống ngoài rừng núi, vườn cây, nói chung là bên ngoài phòng ốc, nên chỗ ngồi và chỗ nằm thường chỉ là một. Và chỗ có thể nằm ngồi cũng chính là trú xứ của vị đó vậy.

5.2.4. Thuốc trị bệnh

IMG_6629

Bhesajja: Thuốc trị bệnh nói chung. Ngoại trừ các thứ được xem là dược phẩm đắt tiền như (Luật kể rõ là mật ong, mật mía, bơ, dầu), các thứ thuốc khác được làm từ rễ, vỏ cây, lá cây đều có thể cất giữ lâu hơn bảy ngày, thậm chí đến khi xài hết thì thôi.

Pāna: Chữ gọi chung một số loại nước uống tỳ-khưu có thể dùng buổi chiều, như nước cốt trái cây ép tươi.

5.3. Ra đi và ở lại

IMG_6630IMG_6631IMG_6632IMG_6633

5.4. Phương tiện và cứu cánh

Cứu cánh – Giải thoát là mục đích tối thượng.

Phương tiện là các học pháp Phật là không thể không có để đạt cứu cánh. Các học pháp Phật này có thể thay bằng các học pháp Phật khác nhưng phải phù hợp.

Trong kinh, với ví dụ của Như Lai, cứu cánh là gì ? Đó là:

– Các niệm chưa được an trú  phải  được an trú  (tâm từ rối loạn phải được thành không rối loạn);

– Tâm tư chưa được định tĩnh được định tĩnh  (tâm từ chưa định phải được định) ;

– Các lậu hoặc chưa được hoàn toàn đoạn trừ được hoàn toàn đoạn trừ (phiền não chưa được đoạn trừ phải được đoạn trừ).

Trong kinh, với ví dụ của Như Lai, phương tiện là gì ?

Đó là: Khu rừng và bốn món vật dụng như là: y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh.

Để có được sự yên ả, tĩnh mịch –  không bị khuấy động bởi những chuyện, những âm thanh náo động của đời thường.

Những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống.

Với trường hợp một và hai:  cứu cánh  (mục đích tối thượng) không đạt. Một khi cứu cánh    không đạt thì lập tức phải rời bỏ ngay  phương tiện  đang sử dụng  –  cho dù với bất cứ lý do gì.

Với trường hợp ba và bốn: cứu cánh (mục đích tối thượng) đạt. Một khi  cứu cánh đạt thì phải  giữ chặt  phương tiện  đang sử dụng  –  cho dù với bất cứ  trở ngại, khó khăn gì.

Thật khó cho người học trò  –  khi  không thể có những tiến bộ gì hơn nếu như tiếp tục học với người thầy của mình. Xử lý thế nào đây ?

Nếu ở lại, cả một đời thanh xuân, với trí tuệ minh mẫn, tinh thần tinh anh, sức học mạnh mẽ nhất … sẽ phải trôi đi … Những cơ hội tu dưỡng khác rồi cũng sẽ phải bị lãng phí bỏ qua …

Nếu bỏ đi … sao tránh khỏi sự thị phi …

Như vậy, kinh Khu Rừng trong bộ Kinh Trung Bộ đề cập đến hai khái niệm thiết yếu và quan trọng, đó là: Phương tiện và cứu cánh.

Ngoài ra, một ý nữa, đó là: Pháp Phật vốn dĩ là muôn vàn pháp học Phật. Pháp Phật như cánh rừng bạt ngàn, bao la – mỗi cây là một học pháp Phật. Làm sao có thể nắm bắt được cả một rừng cây? Để làm gì  –  trong khi chỉ cần vài cây là đủ ?

Cho nên, sau khi “dạo quanh, thăm quan” khu rừng, hãy chọn lấy một chốn nhỏ bé phù hợp  để mà bắt đầu cuộc hành trình tu tập  của mình. Giả như đã có một chốn thanh tịnh,  hà có gì lại cứ phải  (nghe lời ra, tán vào) nhảy loăng quăng, hết chỗ này, đến chỗ nọ ?

Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt…

  1. KẾT LUẬN

Pháp môn tu, hay con đường, là yếu tố quyết định sự thành tựu của công phu tu tập phạm hạnh. Bên cạnh đó, trú xứ tu hành và người bạn đồng tu cũng là một trợ duyên quan trọng cho cuộc tu.

Vị hành giả phải lựa cho mình nơi tu tập thích hợp, người bạn thân cận trợ giúp cho mình tiến triển cho quá trình công phu của mình.
(theo spunno)

About admin

Check Also

Tìm hiểu “HỘ PHÁP TỨ ĐẠI THIÊN VƯƠNG”

Chủ nhật chúng ta lên Đại giảng đường chùa Cao Linh lễ Phật, Bồ Tát. …

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *